Khảo sát

Bạn đánh giá thế nào về công tác chống dịch hiện nay ở Hà Nội?
  • Rất tốt

    Số phiếu: 3 75.0%
  • Chưa tốt lắm

    Số phiếu: 1 25.0%
  • Rất kém

    Số phiếu: 0 0.0%

ngày ông Công ông Táo bên Trung Quốc 灶君节-中国记忆·传统节日 灶王节

C

ngày ông Công ông Táo bên Trung Quốc 灶君节​

中国记忆·传统节日】灶王节​


1

“二十三,糖瓜粘,灶王老爷要上天。”一进村,清脆的童谣声就不绝于耳,听得天瑞心里也欢喜雀跃起来。看着雪花纷飞中亮着的“糖瓜爷爷”的灯笼,闻着淡淡的烟火味儿,他感到一阵暖意涌上心头。
2

“到磨坊村和外公、外婆一起过灶王节,他们一定很高兴吧?”
3

灶王节,就是灶王爷的节日啦,这灶王爷嘛,天瑞以前听外婆讲过一个故事—很久以前,富家子张生娶了丁香做妻子。丁香贤惠善良,孝顺公婆,把家业操持得井井有条,日子过得红红火火。后来,张生喜新厌旧,把丁香赶出家门,又娶了海棠。
4

这之后,丁香嫁给了一个穷打柴的。张生与海棠则每天吃喝玩乐,不到两年,就把万贯家财败光了。海棠见张生成了穷光蛋,离开了他。
5

张生孤独一人,又不会手艺,只好拿个破碗沿街乞讨。有一年的腊月二十三,大雪纷飞,天寒地冻,张生又冷又饿,来到一户富人家门前讨饭。女主人带他到灶前取暖,又给了他一碗热面条。
6

张生从面里吃出了丁香和他结婚时戴的发簪,认出眼前的女人便是被他休掉的妻子,心里羞愧难当,一头钻进灶门里去了。玉皇大帝觉得张生能认识到自己的错误,还不算太坏,就封他做了灶王爷。
7

呵呵,灶王爷曾经也是个凡人呢!不知外公家的灶王爷长得像张生吗?“外公,外婆,我来喽!”“天瑞来啦?快上炕暖和,太冷了!”外婆赶紧迎上来。
8

“坐了一天的车,累了吧?”外公慈祥地问,他正在给大麦芽浇水。天瑞发现,外公的头发已经全白了。“不累,我要和外公一起做糖瓜送灶王呢!”“嗯,糖瓜可不好做。”外公说。
9

第二天凌晨四点,天瑞就和外公,外婆一起起床忙活了。“这是用大麦和大米发酵好的母液。”外公用瓢舀出母液,仔细地过筛,倒入大锅中熬糖。熬啊熬,熬成了粘稠的糖浆状。外公用木铲不停地搅拌着:“熬糖的关键在火候,年头久了,自然就摸出门道了。”
10

好累的活儿啊!外公开始踹大气了,但他看着锅里金黄色的糖浆,脸上始终流露出欣喜的神色。“年轻人谁也不愿留在村里,把这门手艺传下去。唉!做糖瓜费工夫,费力气,不赚钱。”外公叹了口气。
11

“好了,起锅拔丝!”外公把起锅后的糖饴趁热桄在撑架上,“拉糖喽!”外公和外婆使劲儿把糖饴拉成长条,又扣在一起,这样一抻一扣,需要好多遍才能形成中空的圆柱体糖条。
12

Từ vựng tiếng Trung ngày Tết ông Công ông Táo​

STTTừ tiếng ViệtTiếng TrungPhiên âm
1Tết ông Công ông Táo灶君节Zào jūn jié
2Ngày 23 tháng chạp农历12月23日nónglì 12 yuè 23 rì
3Đưa, tiễnsòng
4Chầu trời上天shàngtiān
5Ngọc hoàng đại đế玉皇大帝Yùhuángdàdì
6Nam Tào男曹星Nán cáo xīng
7Bắc Đẩu北斗星Běidǒuxīng
8Cá chép鲤鱼lǐyú
9Đốt hương/thắp hương烧香/上香shāoxiāng/shàng xiāng
10Phóng sinh放生fàngshēng
11Bái kiến拜谒bàiyè
12Đốt vàng mã烧纸钱shāo zhǐqián
13Phù hộ保佑bǎoyòu
14Cúng供奉gòngfèng
15Cầu xin恳求kěnqiú

Tìm hiểu về ngày ông Công ông Táo bên Trung Quốc​

Ông Công ông Táo bên Trung Quốc là ai?​

hinh-anh-tu-vung-tieng-trung-ngay-tet-ong-cong-ong-tao-1

Táo quân 灶君 [zào jūn], người Trung Quốc quen gọi là 灶神 [zào shén] (Táo thần) hay 灶王 [zào wáng] (Táo vương). Nhân vật đã xuất hiện từ lâu đời trong dân gian Trung Hoa. Từ thời nhà Thương (TK17 – TK11 TCN) đã có ghi nhận về Táo thần, và được liệt vào Ngũ tự 五祀 (năm vị thần được cúng bái theo truyền thống của người Hán cổ).
Táo thần được coi là vị thần coi quản việc bếp núc (灶 táo – có nghĩa là cái bếp), tức là người “quan sát” cuộc sống gia đình của nhà đó. Người nắm rõ cách “ăn ở” của người trong nhà. Tương truyền Táo thần có hai vị “thư ký” được gọi là Thiện quán 善罐 và Ác quán恶罐. Trong đó một vị ghi chép lại những việc thiện của người nhà đó, còn một vị ghi lại những việc xấu.


Về “tạo hình” của Táo thần, rốt cuộc Táo thần là “ông” hay “bà” thì có nhiều ghi chép khác nhau. Một số sách ghi chép Táo thần là phụ nữ, thậm chí còn là cô gái xinh trẻ đẹp, lại có sách ghi chép Táo thần là “ông”. Trong những bức tranh còn truyền lại của người Hán thì thường là vẽ Táo thần là gồm có “một ông một bà”, thậm chí “một ông hai bà”.
Vào ngày 24 tháng chạp (âm lịch) 腊月二十四, Táo thần sẽ rời trần gian để lên trời “báo cáo” với Ngọc hoàng thượng đế 玉皇上帝 [yùhuáng shàngdì] về những việc mà gia đình đó đã làm trong cả năm đó (gọi là “từ Táo” 辞灶).
“Người làm nhiều việc tốt, 3 năm sau, phúc thọ ắt giáng từ trên trời xuống; kẻ mắc nhiều tội lỗi, 3 năm sau, tai ương ắt giáng từ trên trời xuống” (功多者,三年之后,天必降之福寿;过多者,三年之后,天必降之灾殃。)

Cúng Táo quân bên Trung Quốc có gì?​

tu-vung-tieng-trung-ngay-tet-ong-cong-ong-tao-3

Vào ngày này, các gia đình thường làm lễ “tiễn Táo” 送灶 [sòng zào] (hay tế táo祭灶 [jì zào]), và làm cơm cúng để mong “bác Táo” báo cáo nhiều việc tốt cho Ngọc hoàng.
Trong mâm cơm cúng Táo, các gia đình thường cúng rượu để Táo say rồi, quên hết mọi chuyện. Kẹo mạch nha (kẹo để cúng Táo gọi là 灶糖, một loại kẹo tương tự kẹo mạch nha) để Táo ăn rồi chỉ nói toàn những lời ngọt, kể toàn việc tốt. Cúng bánh nếp cũng để miệng bị dính lại, không “lải nhải” được nhiều.
Dân gian Trung Quốc không có ghi chép về “phương tiện” của Táo thần, nên trong cơm cúng Táo người ta cúng thịt, cá như là một món ăn. Chứ không phải cúng cá để làm “phương tiện” cho Táo thần. Và cũng không có tục thả cá chép phóng sinh. Nhiều nơi quan niệm là Táo thần đi bằng ngựa nên đốt ngựa.

Cúng ông Công ông Táo vào ngày nào bên Trung Quốc​

Dân gian Trung Quốc có tương truyền: 二十三,祭灶神;二十四,写大字;二十五,扫尘土;二十六,烀猪肉;二十七;杀年鸡;二十八,把面发;二十九,帖倒酉;三十夜,守一宿。
(Dịch ý: hai mươi ba cúng Táo, hai mươi tư viết chữ (để treo ngày tết), hai mươi lăm quét bụi, hai mươi sáu nấu lợn, hai mươi bẩy giết gà, hai mươi tám làm mì, hai mươi chín dán câu đối, đêm ba mươi “thủ” ở nhà (tức đêm 30 không ra khỏi nhà)).
Ngày 23 tháng chạp (ÂL) được gọi là “tiểu niên” 小年 [xiǎo nián]. Tức tính đến ngày này, được coi như là đã hết năm. Từ ngày “tiểu niên” đến đêm “trừ tịch” 除夕 [chú xī] (tức đêm giao thừa) là tiến hành các hoạt động để tiễn năm cũ và đón năm mới.
Về ngày “tiễn Táo”, nhiều sách vở ghi chép đa phần các địa phương ở Trung Quốc đều “cúng Táo” vào ngày 24 tháng chạp (Âm lịch). Tuy nhiên cũng rất nhiều nơi tương truyền rằng gia đình nhà quan lại vương quyền thì tiễn ngày 23. Người dân thường thì tiễn ngày 24. Nếu chẳng may mà quên cúng thì muộn nhất là cúng ngày 25 (vì ngày làm “lễ báo cáo” là sớm ngày 25).
Tuyệt đối không được cúng ngày 26, còn ngày 27, 28 chỉ dành cho những kẻ “vô lại” (君廿三民廿四,乌龟王八廿七廿). Ngoài ra một số nơi còn có tục là phụ nữ không được “cúng Táo” mà phải là đàn ông (男不拜月,女不祭灶 nam không cúng rằm, nữ không cúng táo). Và vào đêm 30 còn tiếp tục làm lễ “đón Táo” trở về 接灶 để bắt đầu một năm mới cùng gia đình.

Phong tục cúng Táo thần ở các địa phương​

Đối với người Trung Quốc, không phải địa phương nào cũng coi trọng lễ “cúng Táo”, thậm chí chỉ có một số ít gia đình duy trì lễ này (thường là khu vực phía nam). Đa phần chỉ duy trì thói quen dọn dẹp nhà cửa, viết chữ, mổ lợn giết gà để chuẩn bị năm mới.
Với người Trung Quốc, trước ngày mùng 1 tết chỉ có một nghi thức được coi là quan trọng, đó là ăn bữa cơm tất niên 年饭 [nián fàn] (còn gọi là bữa cơm đoàn tụ 团圆饭 [tuányuán fàn]) vào đêm giao thừa 除夕, là nghi thức đặc biệt quan trọng đối theo quan niệm của người Trung Quốc.
 
Thẻ
ngày ông công ông táo bên trung quốc 灶君节-中国记忆·传统节日 灶王节
Bình luận
Bên trên